Bài thuốc hay‎ > ‎

Trung y luận trị bệnh AIDS


Trung y luận trị bệnh AIDS, cho đến nay chưa hình thành một thứ lý luận thống nhất. Song, chung quy cho rằng gốc (bản) bệnh AIDS là Tỳ Thận dương hư, ngọn (tiêu) là ôn độc thấp trọc xâm nhập bên trong, tức chứng Ôn độc bản hư tiêu thực.
Thời kỳ đầu bệnh AIDS theo lý luận luận trị Ôn bệnh. Nếu tà tại khí phận, thấp nhiệt uất trệ Tỳ Vị. Chứng thấy mình nóng mồ hôi không ra, mồ hôi dính, sắc mặt không tươi, muốn ngủ không có sức, ngực khó thở bụng trướng, cổ họng khô, miệng đắng, buồn nôn miệng đắng, buồn nôn, trong lòng bức rức, tiện bí hoặc hạ lỵ không sướng, rêu lưỡi dày dơ cáu bẩn hoặc lưỡi đỏ rêu vàng, mạch hoạt sác hoặc nhu sác. Ấy là do độc tà của ôn nhiệt chứa tích ở trung tiêu Tỳ Vị, trở trệ khí cơ, thấp nhiệt đều nặng, chứa tích chưng không giải, cho nên mình nóng không lui, tà thấp nhiệt nặng chưng dính cáu bẩn, rất khó tụ hóa, nhiệt bị thấp lưu, cho nên mình nóng mồ hôi không ra; thấp nhiệt giao trở, khốn nhiễu trung tiêu, thanh dương không thăng, trọc âm không giáng, ắt buồn ngủ thiếu sức, thấp nhiệt trở trệ trung tiêu, tỳ mất kiện vận, thăng giáng bất ty, khí cơ không lợi, cho nên tự cảm thấy ngực khó thở bụng trướng; nhiệt nặng hơn thấp và đởm khí bất thư, ắt cổ họng khô miệng đắng, miệng khát tâm phiền; thấp nhiệt giao trở, vị mất hòa giáng, ắt có buồn nôn, ói mửa. Nếu đởm nhiệt tích chứa lâu, nhiệt nặng hơn thấp, ắt đại tiện bí kết, tiểu tiện ngắn đỏ.
Đối với thấp ôn bệnh tà tại khí phận, thấp nhiệt uất trở Tỳ vị mà nhiệt tà thiên thắng, phép trị nên thanh nhiệt giải độc, khư thấp lương huyết, phương dùng Cam lộ tiêu độc đơn.

- Bài thuốc : Cam lộ tiêu độc đơn
- Thành phần : Hoạt thạch 45g, Nhân trần 33g, Hoàng cầm 30g, Thạch xương bồ 12g, Xuyên bối mẩu 15g, Mộc thông 15g, Hoắc hương 12g, Xạ can 12g, Liên kiều 12g, Bạc hà 12g, Bạch khấu nhân 12g.
- Cách dùng : Đem tất cả thuốc đem sấy khô nghiền bột, mỗi lần uống 9g, mỗi ngày 2 lần
- Giải thích : Trong phương Xạ can, bối mẩu thanh phế lợi yết, với Hoàng cầm, Liên kiều, Bạc hà khinh thanh thấu đạt giải độc ở phần trên, Hoạt thạch, Mộc thông, Nhân trần thanh nhiệt thấm thấp ở phần dưới, 2 tổ thuốc đã trên lại dưới thấm, phân tiêu thấp nhiệt. Vậy trung tiêu bị thấp trọc sở khốn, không có thuốc phương hương không thể hóa trọc khu thấp, vì thế phối hợp với Hoắc hương, Thạch xương bồ, Khấu nhân v.v.. phương hương hóa trọc, tỉnh tỳ khứ thấp Toàn phương có thể thanh nhiệt giải độc, phương hương hóa thấp, đạm thấm lợi thấp 3 phép đều dùng. Lúc bệnh AIDS mới phát có thể dùng phương này.

Đối thấp ôn bệnh tà tại khí phận, thấp nhiệt uất trệ tại Tỳ Vị, thấp nhiệt đều nặng, có thể dùng Vương Thị Liên Phác Ẩm

- Bài thuốc : Vương Thị Liên Phác Ẩm
- Thành phần : Xuyên liên 6g, Hậu phác 6g, Bán hạ 6g, Hương đậu 6g, Thạch xương bồ 3g, Sơn chi tử 3g, Lô căn 9g.
- Giải thích: Trong phương Xuyên liên đắng lạnh thanh nhiệt táo thấp; Hậu phác đắng ấm lý khí hóa thấp; Bán hạ giáng nghịch hòa vị Thạch xương bồ phương hương hóa trọc, tỉnh thần duyệt tỳ Chi tử, Hương đậu thanh tuyên thượng tiêu uất nhiệt, thấu đạt uế hủ trọc khí ở trung tiêu; Lô căn thanh nhiệt lợi thấp mà không tổn thương tân dịch. toàn phương phối hợp ứng dụng, hiệu quả càng mạnh. Còn có thể dùng Thất diệp liên, Thất diệp nhất chi hoa, Tử hoa địa đinh, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán ch liên, Đại thanh diệp, Bản lam căn, Chi tử, Bạch đầu ông, Kim ngân hoa, Hoa phấn v.v...Các loại thuốc gia thêm và liều lượng theo chứng hậu cụ thể lúc đó của bệnh nhân mà định. Chủ yếu là khư tà (chống virút) là chủ. Trên thực tế, các thuốc trung dược này, phần lớn có tác dụng kháng virút.

Sau điều trị kể trên nếu tà thấp độc đã khư trừ, hiện tương thấp trọc đã tan, các chứng hậu hư chứng hiển hiện rõ, chung quy bệnh AIDS chủ yếu quan hệ nhiều đến 3 tạng Tỳ, Phế, Thận, chứng hậu thấy nhiều là chứng Tỳ Phế khí huyết lưỡng hư, chứng thận tinh thận âm bất túc, tức thuộc Kim Thổ Thủy trong ngũ hành, lúc này phương thuốc có thể chọn dùng làQuy Tỳ thang (1), Bổ trung ích khí thang gia giảm (2). Nếu Phế khí hư âm hư có thể dùngSinh mạch tán (3) bổ nguyên khí ích âm tân, hợp dùng loại thuốc trợ giúp (tá dược) tư âm sinh tân như Huyền sâm, Sinh địa hoàng, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo v.v...; lúc ho nặng gia uống Khổ hạnh nhân, Tỳ bà diệp; thận tinh không đủ có thể chọn dùng Thục địa, Sơn thù nhục, Câu kỉ tử, Đổ trọng, Cam thảo, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử. Tinh khô gầy mòn gia thêm Lộc nhung, Tử hà sa, Nhục thung dung, Ba kích thiên v.v...Thận âm không đủ chọn dùng Mạch môn đông, Thiên môn đông, Bách hợp. Bài thuốc có thể chọn dùng Tri Bá Địa Hoàng thang(4), Tuyến Limpha sưng to gia Trúc nhự, Thiên nam tinh, Hải tảo v.v...Tư đây có thể thấy, sau khi khư trừ tà nên phù chính (tăng cướng sức miễn dịch cơ thể) làm chủ. Trên thực tế, các thuốc này phần lớn có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch.

Phù chính khu tà của Trung dược với trị liệu kháng Virút cùng trọng kiến hoặc tăng cường công năng miễn dịch của Tây y là hoàn toàn nhất trí, qua nghiên cứu chứng thực, Trung dược như Hoàng kỳ, Nhân sâm, Nữ trinh tử, Đảng sâm, Thích ngũ gia, Tiên mao, Thỏ ty tử, Sơn thù nhục, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ý dĩ nhân, Hậu phác v.v..., có tác dụng tăng cường phản ứng miễn dịch thể dịch. Mà Nhân sâm,Hoàng kỳ, Linh chi, Ngân nhĩ nhiều đường, Hoàng tinh v.v..., có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch tế bào.

Các bài thuốc đã dùng:

1. Quy Tỳ thang : Đương qui 3g, Viễn chí 3g, Hoàng kỳ 15g, Bạch truật 15g, Phục thần 15g, Toan táo nhận 15g, Quế viên nhục 15g, Đảng sâm 9g, Mộc hương 9g, Chích cam thảo 6g, Sinh khương 3 lát, Táo 1 trái.

2. Bổ trung ích khí thang : Nhân sâm 10g, Bạch truật 10g, Đương qui 10g, Hoàng kỳ 15g, Trần bì 6g, Thăng ma 3g, Sài hồ 3g, Cam thảo 5g.

3. Sinh mạch tán : Nhân sâm 9g, Mạch đông 9g (khử tâm), Ngũ vị tử 9g.

4. Tri Bá Địa Hoàng thang : Tri mẩu 6g, Hoàng bá 9g, Đơn bì 9g, Trạch tả 9g, Phục linh 9g, Thục địa 24g, Sơn thù 12g, Hoài sơn dược 12g.

Trần Hoàng Bảo - Dịch từ TRUNG TÂY Y CHẨN TRỊ BỆNH HOA LIỄU- Nhà xuất bản khoa học kỉ thuật Tứ Xuyên (1992)
Comments